Báo Quảng Ngãi: Rút ngắn thời gian đại học: Cần lộ trình đồng bộ và kiểm soát tốt chất lượng

Dự thảo Quy chế đào tạo trình độ đại học (ĐH) vừa được Bộ GD&ĐT ban hành thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận bởi cơ chế cho phép người học tích lũy sớm để rút ngắn thời gian tốt nghiệp. Dự thảo mở ra cơ hội cá nhân hóa lộ trình học tập cho sinh viên (SV) và học sinh (HS) phổ thông xuất sắc, nhưng cũng đặt ra bài toán về lộ trình và kiểm soát chất lượng đầu ra.

Từ nỗ lực cá nhân đến cơ chế hệ thống

Thực tế, việc học vượt để tốt nghiệp sớm vốn không xa lạ trong phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Việt Nam nhiều năm qua. Nhiều SV có học lực tốt đã ra trường sớm từ 1 - 2 học kỳ.

Thế nhưng, hầu hết các trường hợp này đều mang tính chất nỗ lực đơn lẻ. Người học phải tự xoay xở đăng ký học thêm trong kỳ hè, chấp nhận lịch học dày đặc và thường xuyên gặp khó vì lịch thi trùng nhau hoặc thiếu môn tiên quyết do nhà trường không mở lớp liên tục.

Dự thảo Quy chế đào tạo trình độ đại học mở ra nhiều cơ hội cho học sinh phổ thông có năng lực vượt trội.

Dự thảo Quy chế đào tạo trình độ đại học mở ra nhiều cơ hội cho học sinh phổ thông có năng lực vượt trội.

                                                                                                                                                                                                                                                    

"Đối với Phân hiệu ĐH Đà Nẵng tại Kon Tum, nếu cơ chế này được ban hành, chúng tôi quan tâm đến việc xây dựng các chương trình dự bị đại học gắn với đặc thù địa phương, nhất là trong các lĩnh vực như chuyển đổi số, kinh tế địa phương, khởi nghiệp, du lịch cộng đồng, giáo dục, quản trị và công nghệ thông tin. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao chất lượng tuyển sinh, mà còn là cách để tạo nguồn nhân lực trẻ, có năng lực, có định hướng và có khả năng đóng góp lâu dài cho khu vực Tây Nguyên và các địa bàn lân cận”.

Tiến sĩ NGUYỄN TỐ NHƯ - Phó Giám đốc phụ trách Phân hiệu ĐH Đà Nẵng tại Kon Tum

                                                                                                                                                                                                                                                        

Với dự thảo mới của Bộ GD&ĐT, việc học trước, học vượt không còn là nỗ lực tự xoay xở của riêng cá nhân nào mà đã được chính thức hóa thành “lối đi chung”. Việc xóa bỏ khung thời gian cứng nhắc giúp các trường ĐH chủ động linh hoạt mở lớp, tạo điều kiện cho những HS, SV có năng lực tự tin tăng tốc để ra trường sớm.

Cơ chế cho phép trường ĐH công nhận và chuyển đổi các tín chỉ mà HS đã tích lũy từ cấp phổ thông được đánh giá là bước đi rất gần với xu hướng quốc tế, mở ra không gian học tập sớm bậc ĐH cho những HS có năng lực nổi trội.

Dưới góc nhìn của một nhà quản lý giáo dục bậc phổ thông, Phó Hiệu trưởng Trường THPT số 1 Nghĩa Hành, ở xã Nghĩa Hành Chu Anh Tuấn nhận định, dự thảo mở ra nhiều cơ hội liên thông, học sớm và tối ưu hóa năng lực của những HS xuất sắc, nhưng cũng đặt ra yêu cầu rất cao về năng lực tự học, năng lực số và tính liêm chính - những giá trị mà trường THPT phải có trách nhiệm kiến tạo và trang bị cho HS trước khi các em rời ghế nhà trường.

Dẫu vậy, yếu tố quyết định chính là một cơ chế công nhận, chuyển đổi tín chỉ minh bạch và đồng bộ giữa 2 cấp học.

Tránh áp lực thành tích

Lợi ích của việc rút ngắn thời gian đào tạo là điều thấy rõ. Người học tiết kiệm được chi phí sinh hoạt, gia nhập thị trường lao động sớm hơn và xã hội có ngay nguồn nhân lực trẻ. Dẫu vậy, mối băn khoăn lớn nhất của các chuyên gia giáo dục lẫn các nhà tuyển dụng lúc này là liệu việc “nén” một khối lượng kiến thức lớn vào khoảng thời gian ngắn có làm giảm chất lượng đầu ra?

Học sinh phổ thông có năng lực vượt trội sẽ được tiếp cận sớm một số học phần của bậc đại học nếu, dự thảo được thông qua.

Học sinh phổ thông có năng lực vượt trội sẽ được tiếp cận sớm một số học phần của bậc đại học nếu, dự thảo được thông qua.

Bản chất của giáo dục ĐH không thuần túy là việc tích lũy đủ số lượng tín chỉ trên giấy tờ, mà là quá trình trưởng thành về tư duy, kỹ năng mềm và trải nghiệm thực tế. Nếu một SV chỉ nhồi nhét lịch học để ra trường sớm rất dễ rơi vào tình trạng thiếu hụt không gian trải nghiệm, không có thời gian tham gia nghiên cứu khoa học hay thực tập thực tế.

Do đó, việc rút ngắn thời gian đào tạo chỉ thực sự hiệu quả đối với những cá nhân có năng lực tự học vượt trội. Rút ngắn thời gian phải được hiểu là tăng tốc độ hấp thu dựa trên năng lực, tuyệt đối không phải là cắt xén chương trình hay hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá.

Bên cạnh câu chuyện chất lượng, dư luận cũng bày tỏ lo ngại về áp lực học đường nếu chính sách bị trục lợi bởi tâm lý chuộng bằng cấp và thành tích, biến một chủ trương nhân văn thành một “đường đua” quá sức đối với HS phổ thông. Các nhà quản lý giáo dục cần định vị rõ ràng: Đây là đặc quyền dựa trên sự tự nguyện và năng lực vượt trội, không phải là tiêu chuẩn chung cho số đông.

Nếu được định hướng đúng, việc học trước các môn đại cương ngay từ trường phổ thông thực chất lại là giải pháp giảm tải, giúp HS tiếp cận tri thức học thuật mang tính ứng dụng cao thay vì quá tập trung vào các lớp học thêm.

Đào tạo theo năng lực và chuẩn đầu ra

Tiến sĩ Nguyễn Tố Như - Phó Giám đốc phụ trách Phân hiệu ĐH Đà Nẵng tại Kon Tum nhận định, việc Bộ GD&ĐT nghiên cứu mở rộng cơ hội rút ngắn thời gian đào tạo trình độ ĐH là một định hướng phù hợp với xu thế giáo dục hiện nay.

Giáo dục ĐH không nên chỉ vận hành theo một lộ trình cứng nhắc cho tất cả người học, mà cần chuyển mạnh sang đào tạo theo năng lực, theo chuẩn đầu ra và theo khả năng tích lũy tri thức của từng cá nhân.

Tuy nhiên, rút ngắn thời gian đào tạo không có nghĩa là cắt giảm chương trình hay hạ thấp yêu cầu chất lượng. Nguyên tắc quan trọng nhất là người học có thể học nhanh hơn, nhưng không được học ít hơn; có thể tốt nghiệp sớm hơn, nhưng vẫn phải đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

Đối với những HS phổ thông có năng lực nổi trội, việc được tiếp cận sớm một số học phần ĐH giúp các em làm quen với môi trường học thuật, phương pháp tự học và định hướng ngành học rõ ràng hơn. Đây là cơ hội để các trường ĐH chủ động đồng hành sớm với HS thông qua các học phần trải nghiệm, kỹ năng học ĐH, chuyển đổi số hay nghiên cứu khoa học cơ bản.

Song việc triển khai cần hết sức thận trọng. Nếu làm đại trà, thiếu kiểm soát sẽ tạo thêm áp lực cho HS. Ngoài ra, nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp, HS ở vùng sâu, vùng xa, HS dân tộc thiểu số hoặc HS có điều kiện kinh tế khó khăn sẽ khó tiếp cận cơ hội này hơn so với HS ở đô thị.

Vì vậy, Tiến sĩ Nguyễn Tố Như cho rằng, cần triển khai theo hướng thí điểm có chọn lọc. Trước mắt, nên ưu tiên các học phần nền tảng, học phần kỹ năng, học phần định hướng nghề nghiệp, chưa nên đưa ngay các học phần chuyên sâu hoặc học phần có yêu cầu thực hành phức tạp.

Quá trình công nhận tín chỉ cũng cần được quy định rõ ràng, minh bạch, chỉ thực hiện khi người học đáp ứng chuẩn đầu ra, có kết quả đánh giá nghiêm túc và trúng tuyển vào chương trình đào tạo phù hợp. 

Để dự thảo đi vào thực tế một cách hiệu quả, áp lực lớn nhất không nằm ở người học mà thuộc về năng lực quản trị của các cơ sở giáo dục ĐH. Một hệ thống đào tạo muốn cho phép người học linh hoạt rút ngắn thời gian đòi hỏi bộ máy vận hành phải cực kỳ khoa học, từ việc quy hoạch mở lớp liên tục đến nâng cao vai trò của đội ngũ cố vấn học tập nhằm thiết kế lộ trình cá nhân hóa cho từng SV, đảm bảo người học tiến bộ nhưng không bị kiệt sức.

Hệ thống khảo thí cũng phải độc lập và nghiêm ngặt tuyệt đối để ngăn chặn tình trạng nới lỏng  nhằm tạo ra những kỷ lục tốt nghiệp sớm ảo.

Một chính sách mở cần tư duy mở và một hạ tầng quản lý đủ tầm để hiện thực hóa. Khi đó, giáo dục ĐH Việt Nam được kỳ vọng sẽ giữ chân được nhiều tài năng trẻ ở lại cống hiến.

Như Tiến sĩ Nguyễn Tố Như nhận định, thành công của chính sách này không nên được đo bằng việc SV tốt nghiệp sớm bao lâu, mà phải được đo bằng việc người học có trưởng thành hơn, có năng lực tốt hơn và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội hay không.

Nguồn: Báo Quảng Ngãi

+